Bài Viết HOT

Luận Số Tử Vi

Astrology.vn - Quẻ Phệ Hạp (噬嗑). Tự quái nói rằng: đáng xem mà sau mới có thửa hợp, cho nên tiếp đến quẻ Phệ Hạp. Hạp nghĩa là hợp. Đã có đáng xem, rồi sau mới có kẻ đến họp với nó, vì vậy quẻ Phệ Hạp mới nối tiếp quẻ Quán. Phệ nghĩa là cắn, Hạp nghĩa là Hợp, trong miệng có vật ngăn cách, phải cắn mới hợp lại được. Trong quẻ, trên dưới có hai hào cứng, mà giữa thì mềm, ngoài cứng trong rống, là tượng trong miệng mép người ta; lại một hào cứng ở giữa, là tượng trong miệng có vật gì. Trong miệng có vật gì, thì nó làm cho trên dưới ngăn cách, không thể hợp lại, ắt phải cắn đi thì mới hợp được, cho nên là quẻ Phệ Hạp - (Truyện Của Trình Di).
Thánh nhân lấy tượng đó mà suy ra việc thiên hạ: ở cái miệng thì là có vật ngăn cách, không thể hợp được; ở thiên hạ thì có kẻ cường mạnh hoặc kẻ sàm tà ngăn cách ở giữa, cho nên việc trong thiên hạ không thể hợp được; phải dùng hình pháp: nhỏ thì trừng giới, lớn thì trừ bỏ đi, rồi sau cuộc trị thiên hạ mới thành - (Truyện của Trình Di).

 

Phàm trong thiên hạ, cho đến một nước một nhà, cho đến muôn việc, sở dĩ không hòa hợp đều vì có sự ngăn cách, không ngăn cách thì sẽ hợp được – cả đến trời đất sinh ra muôn vật dựng lên, đều phải hợp rồi sẽ được toại. Hễ mà chưa hợp đều là có sự ngăn cách… Trừ bỏ sự ngăn cách trong thiên hạ thì phải dùng hình phạt, cho nên quẻ này lấy sự dụng hình làm nghĩa. Bề hai thể của quẻ, thì sáng soi mà oai nhức, tức là cái tượng của việc dùng hình.

Sau quẻ Quán, tiếp lấy quẻ Phệ Hạp. Hễ có vật lý nhân tình tất phải có khả quan, mà sau mới có chốn hợp. Nên sau quẻ Quán, tiếp lấy quẻ Phệ Hạp. Hạp có nghĩa là hợp. Khả Quan nghĩa là soi xem được, Hạp nghĩa là hợp, Phệ nghĩa là cắn. (Quốc Văn Chu Dịch Diễn Giải - Sào Nam Phan Bội Châu). Tên quẻ:  Phệ hạp là khiết hợp - cắn ngậm lại, ngục hình.

 

嗑:亨。 獄。 

Phệ Hạp. Hanh. Lợi dụng ngục.

Quẻ Phệ Hạp hanh, lợi việc dùng ngục.

[Truyện của Trình Di: Quẻ Phệ Hạp hanh, vì quẻ tự có nghĩa hanh. Việc trong thiên hạ, sở dĩ không được hanh thông là vì có chỗ ngăn cách; cắn mà hợp lại là hanh thông rồi. Lợi dùng việc ngục, nghĩa là đạo cắn mà hợp lại, nên dùng vào việc hình ngục vậy. Không nói “lợi dùng việc hình” mà nói “lợi dùng việc ngục” là vì trong quẻ có tượng sáng soi (Ly Hỏa), lợi về sự xét ngục vậy. Ngục là để xét trị sự thật dối. Biết được tình thật, thì biết cái đạo làm cho ngăn cách, rồi mới có thể đặt ngăn ngừa và dùng hình phạt.]

 

:   物,曰 嗑,噬 亨。剛 分,動 明,雷 章。柔 行,雖 位,利 也。

Thoán viết: Di trung hữu vật. Viết Phệ Hạp. Phệ Hạp nhi hanh. Cương Nhu phân. Động nhi minh. Lôi điện hợp nhi chương. Nhu  đắc  trung  nhi thượng hành. Tuy bất đáng vị. Lợi dụng ngục dã.

Lời thoán nói rằng: Trong mép có vật là quẻ Phệ Hạp. Cắn hợp mà hanh. Cứng mềm chia động mà sáng, sấm chớp hợp lại mà rõ. Mềm được giữa mà đi lên, tuy không đáng ngôi, lợi về sự dùng ngục vậy.

[Bản nghĩa của Chu Hy: Đoạn này dùng tên quẻ, thể quẻ, đức của hai tượng và sự biến đổi của quẻ để thích lời quẻ.]

[Lời bàn của Tiên Nho. Hồ Vân Phong nói rằng: Động không như sấm, không thể đoán ngục; sáng không như điện, không thể xét ngục; không mềm thì lỗi về bạo; mềm mà không giữa thì lỗi về phóng túng. Nói sự cực dụng ngục là khó vậy.]

 

﹔先 法。

Tượng viết: Lôi điện Phệ Hạp. Tiên vương dĩ minh phạt sắc pháp.

Lời tượng nói rằng: Sấm chớp là quẻ Phệ Hạp, đấng quân vương coi đó để tỏ phạt truyền phép.

 

1.  Hào Sơ Cửu.

:      趾,無 咎。

Sơ Cửu. Lý giáo diệt chỉ. Vô cữu.

Hào chín đầu: Xéo xiềng, đứt ngón chân, không lỗi.

[Bản nghĩa của Chu Hy: Hào đầu, hào Trên không ngôi là tượng bị hình, bốn hào giữa là tượng dụng hình. Hào đầu ở đầu quẻ, tội nhẹ, lỗi nhỏ, lại ở dưới quẻ cho nên tượng là xéo xiềng đứt chân. Ngăn điều ác trong lúc mới đầu, cho nên được không lỗi. Kẻ xem bị thương nhỏ mà không có lỗi.]

 

曰:     趾,不 也。

Tượng viết:  Lý giáo diệt chỉ. Bất hành dã.

Tượng nói rằng: Xéo xiềng, đứt ngón chân, không đi vậy.

Bước lên cùm, đứt chân, không lỗi. Ý Hào: ác nhỏ, biết trừng trị ngay thì đỡ lỗi.

[Truyện của Trình Di: Xéo vào xiềng mà bị đứt ngón chân, thì biết răn sợ mà không gây lớn điều ác, cho nên nói là không đi. Người đời xưa đặt ra hình phạt, có tội nhỏ thì xiềng ngón chân, đó là ngăn cấm sự đi, không cho tiến về đường ác.]

 

2. Hào Lục nhị.

:       鼻,無 咎。

Lục nhị. Phệ phu diệt tị. Vô cữu.

Hào sáu hai: Cắn da, dứt mũi, không lỗi.

[Truyện của Trình Di: Hào Hai ứng với ngôi hào Năm, là kẻ dùng sự hình phạt. Bốn hào đều lấy nghĩa cắn, hào Hai ở giữa, được chỗ chính, là kẻ dụng hình mà được trung chính. Dụng hình được trung chính thì kẻ tội ác dễ phục, cho nên lây sự cắn da làm tượng. Hào Hai mềm cưỡi lên hào Đầu cứng, ấy là dụng hình với người cương cường. Hình phạt những kẻ cương cường ắt phải đau sâu…]

 

曰:     鼻,乘 也。

Tượng viết: Phệ phu diệt tị. Thừa Cương dã.

Lời tượng nói rằng: Cắn da cụt mũi, vì cưỡi cứng vậy.

Cắn da, đứt mũi, nhưng không lỗi gì. Ý Hào: trị người khó tránh việc tổn thương người.

[Truyện của Trình Di: Cưỡi lên kẻ cứng, nghĩa là dụng hình với người cương cường, không thể không nghiêm. Nghiêm thì được sự thích nghi, đó là trung đạo.]

 

3. Hào Lục tam.

:     肉,遇 ﹔小 吝,無 咎。

Lục tam. Phệ tích nhục ngộ độc. Tiểu lận. Vô cữu.

Hào sáu ba: Cắn mắm khô, gặp độc, hơi tiếc, không lỗi.

[Bản nghĩa của Chu Hy: Hào Ba âm nhu không trung chính, trị người mà người không phục, là Tượng “cắn thịt khô gặp độc”. Lời chiêm tuy hơi đáng tiếc, song đương buổi “cắn hợp”, về nghĩa vẫn không lỗi.]

 

曰:    毒,位 也。

Tượng viết: Ngộ độc. Vị bất đáng dã.

Lời tượng nói rằng: Gặp độc, ngôi không đáng vậy.

Cắn miếng thịt xương, ngộ độc, hối thẹn một chút, nhưng không lỗi gì. Ý hào: đức không đủ để trị người, nên có sự bất phục.

 

4. Hào Cửu tứ.

:     胏,得 矢,利 貞,吉。

Cửu tứ. Phệ can chỉ. Đắc kim thỉ. Lợi gian trinh. Cát.

Hào chín tư: Cắn cỏ khô, được tên vàng, lợi về khó nhọc, chính bền tốt.

[Truyện của Trình Di: Chín Tư là hào cứng mà sáng, thể Dương mà ở ngôi mềm. Cứng sáng thì hại về sự quả quyết, cho nên phải răn bằng sự biết khó nhọc; mềm thì gìn giữ không bền, cho nên phải răn bằng sự kiên trinh. Cứng mà không trinh là sự thường có, phàm kẻ quá cứng đều là không trinh. Ở quẻ Phệ Hạp, hào Tư này là hay nhất. Hào Tư lấy chất cứng ở ngôi mềm được đạo dụng hình, cho nên có tượng ấy.]

 

曰:    吉,未 也。

Tượng viết: Lợi gian trinh cát. Vị quang dã.

Lời tượng nói rằng: Lợi về khó nhọc, chính bền tốt, là chưa sáng vậy.

Cắn miếng thịt xương khô, được cái kim vàng chịu khó giữ chính nên tốt. Ý hào: có quyền dùng hình phạt, mà biết khéo dùng.

 

5. Hào Lục ngũ.

:      肉,得 金,貞 厲,無 咎。

Lục ngũ. Phệ can nhục.  Đắc hoàng kim. Trinh lệ. Vô cữu.

Hào sáu năm: Cắn thịt khô, được vàng vàng, chính bền, lo sợ, không lỗi.

Cắn miếng thịt khô, được hoàng kim giữ chính, biết lo nguy, nên không lỗi gì. Ý Hào: trị dân phòng kẻ ngoan cố.

[Bản nghĩa của Chu Hy: Hào Năm mềm thuận mà trung độ, lại ở ngôi tôn, dùng hình với người, không ai không phục, nên có tượng ấy. Nhưng mà ắt phải chính, bền, lo sợ mới được không lỗi.]

 

曰:   咎,得 也。

Tượng viết: Trinh lệ vô cữu. Đắc đáng dã.

Lời tượng nói rằng: Chính bền, lo sợ, không lỗi, vị được đáng vậy.

[Truyện của Trình Di: Sở dĩ việc nó không lỗi vì việc làm của nó xứng đáng. Gọi là đáng tức là ngôi giữa, dùng kẻ cứng, mà biết đường chính đính, lo sự hiểm nghèo.]

 

6. Hào Thượng Cửu.

:     耳,凶。

Thượng Cửu. Hà giáo diệt nhĩ. Hung.

Hào chín trên: Đội xiềng, đứt tai, hung.

Đội cái cùm, đứt tai, xấu - nói người bị hình phạt. Ý Hào: ác lớn, tội nặng.

[Bản nghĩa của Chu Hy: Hào Sáu Dương quá cực ở về trên quẻ, đó là cái đạo tội lớn án cực, cho nên tượng chiêm như thế.]

 

曰:    耳,聰 也。

Tượng viết: Hà giáo diệt nhĩ. Thông bất minh dã.

Lời tượng nói rằng: Đội xiềng dứt tai, sự nghe không sáng vậy.

[Bản nghĩa của Chu Hy: Dứt tai là tại sự nghe không suốt. Nếu biết nghe tỏ mà lo cho sớm đi, thì không có sự hung ấy.]

 

Biên Soạn: Astrology.vn

  Dịch HọcKinh Dịch Giản Yếu - Astrology.vn - About us

This email address is being protected from spambots. You need JavaScript enabled to view it.

> KINH DỊCH GIẢN YẾU: QUẺ 20 - PHONG ĐỊA QUÁN 易经 風地觀

> KINH DỊCH GIẢN YẾU: QUẺ 19 - ĐỊA TRẠCH LÂM 易经 地澤臨

> KINH DỊCH GIẢN YẾU: QUẺ 18 - SƠN PHONG CỔ 易经 山風蠱

> KINH DỊCH GIẢN YẾU: QUẺ 17 - TRẠCH LÔI TÙY 易经 澤雷隨

> KINH DỊCH GIẢN YẾU: QUẺ 16 - LÔI ĐỊA DỰ 易经 雷地豫